Chế độ ăn uống và sự bớt xén trong trại giam
Ăn uống thì đối với tù nhân bình thường, nếu chỉ trông vào chế độ trại cấp, thì rất khốn khổ. Sau này khi tôi ra tù, có điều kiện tìm hiểu luật và so sánh, tôi mới thấy rằng ngay cả tiêu chuẩn khẩu phần dành cho người tù vốn đã rất ít, nhưng chuyện bớt xén còn xảy ra nhiều nữa.
Thức ăn thì không ăn nổi. Ví dụ bây giờ mình cần ăn thịt, ăn cá, nhưng những miếng thịt đó kho lên thì mùi bốc ra không thể ăn nổi. Còn cá thì là cá mè non, tôi gọi là cá mè non. Tức là con cá mè phải to cỡ cả ký ăn mới được, còn loại chỉ hai ba lạng, nhỏ xíu, đem kho lên thì tanh vô cùng.
Sự khắc nghiệt tại Trại 5 Thanh Hóa
Đặc biệt là chế độ lao động ở trại 5 Thanh Hóa cũng rất khắc nghiệt. Thời tiết khắc nghiệt, và cách đối xử của cai tù với tù nhân cũng rất khắc nghiệt.
Tôi không bị kỷ luật, cũng không bị chuyển trại vì lý do kỷ luật. Tôi chỉ bị chuyển từ trại tạm giam Trần Phú lên trại 5 Thanh Hóa vì lúc đó tôi đã thành án, tức là đã có bản án rồi. Sau đó tôi ở trại 5 Thanh Hóa cho đến ngày hết án, cho đến ngày về.
Nếu nói về chế độ ăn uống của trại giam đối với những người tù “mồ côi”, tức là không có gia đình thăm nuôi, thì theo tôi, không thể đáp ứng đủ nhu cầu.
Thực ra nói đến “nhu cầu” thì rất rộng, khó biết thế nào là đủ, vì nhu cầu con người là vô cùng. Nhưng nếu nói ở mức tối thiểu, thì tôi chỉ so sánh giữa quy định và thực tế thôi.
Ngay bản thân quy định dành cho người thi hành án đã rất khắc nghiệt, rất thiếu thốn rồi. Nhưng thực tế ở các trại giam, đặc biệt như Thanh Hóa, thì việc thực hiện còn tệ hơn nhiều.
Chất lượng thực phẩm và phản ứng của ban giám thị
Như tôi vừa nói, nó không được như quy định. Ví dụ về thịt: giả sử một tháng được ba lạng hay bốn lạng thịt thì lượng đó vốn đã ít rồi. Nhưng chưa hết, cái vấn đề còn nằm ở chất lượng. Nếu nói là được ăn thịt, thì phải có cả nạc cả mỡ chứ. Nhưng họ đưa ra toàn thịt mỡ, không ăn được. Mà nấu cũng không chín.
Tôi đã từng phải gặp ban giám thị để yêu cầu nấu chín thức ăn hơn, yêu cầu đối với đội nhà bếp. Nhưng ban giám thị bao giờ cũng tránh. Họ cứ bảo nói với cán bộ A, cán bộ B, cán bộ C thôi. Cho nên nhiều khi tôi phải tận dụng cơ hội, ví dụ tình cờ gặp ai đó to to, có chức quyền một chút, họ hỏi vài câu thì mình tranh thủ nói luôn.
Tiêu chuẩn ăn của người tù, nhất là đối với người không có gia đình, không có ai giúp đỡ, không có gì bồi dưỡng thêm, thì hoàn toàn không đủ.
Mà anh biết rồi, trại 5 Thanh Hóa chủ yếu giam những người án dài: mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, chung thân. Hầu như là tù án dài mới lên đó, chứ án dưới bảy năm thì trước kia không có đi Thanh Hóa. Sau này có thay đổi một chút, có những người chạy chọt hay vì lý do nào đó thì mới khác.
Vậy mà với những người tù án dài, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chế độ cai quản khắc nghiệt, mà dinh dưỡng lại như vậy, thì làm sao chịu nổi.
Quyền lợi của người tù và thực tế đấu tranh
Về mặt hình thức, người tù có quyền khiếu nại, khiếu tố, phản ánh hay đề đạt. Theo luật thì đi tù chỉ là bị hạn chế một số quyền chứ không phải bị cướp hết mọi quyền. Ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử thì trong thời gian thi hành án không có, nhưng quyền khiếu nại, quyền khiếu tố, quyền được pháp luật bảo vệ thì vẫn còn.
Còn việc có hiệu quả hay không thì còn tùy.
Trong trường hợp của tôi, liên quan đến việc có người không được khám chữa bệnh, không được dùng nước nóng, không được có chăn đệm đủ ấm vào mùa đông, thì nhiều lần tôi phải đề đạt.
Mỗi lần làm việc, tôi đều yêu cầu gặp người có quyền cao nhất là ban giám thị. Nhưng trong suốt hai năm rưỡi ở Thanh Hóa, thời ông Lực làm giám thị, tôi chưa bao giờ gặp được ông ấy. Lần nào cũng bị hẹn rồi né.
Muốn gặp thì mình phải nói với các cán bộ cấp dưới của ông ta. Nhưng khi nói với họ thì lúc họ bảo quên, lúc bảo chưa gặp, lúc thì bảo ban giám thị đang họp. Suốt cả năm trời cứ như vậy. Nói thật là họ trốn mình.
Có những chuyện như không cho dùng băng vệ sinh, không cho dùng nước nóng trong những ngày phụ nữ đau đớn, tôi đã phải đấu tranh. Cuối cùng họ cũng phải nhượng bộ phần nào.
Dù không gặp được ông Lực, nhưng tôi có gặp phó giám thị là bà Nguyễn T.C. vài lần. Bà này cũng từng được báo chí đăng nhiều. Khi bà ấy đi vào, tôi tranh thủ hỏi, tranh thủ phản ánh.
Tôi thấy là việc đó rất khó khăn, nhưng có lẽ khó với tôi thôi. Còn đối với tù nhân bình thường thì họ thường chỉ chấp hành, hoặc nếu có tiền thì họ đút lót, họ làm việc trực tiếp với cán bộ quản giáo, chứ không có nhu cầu gặp ban giám thị. Nếu có việc gì không bất lợi cho trại thì chắc việc gặp gỡ cũng bình thường. Còn với tôi thì khó, vì mục đích gặp của tôi thường là để nêu ra những chuyện bất lợi cho họ, nên họ tránh.
Một ngày bình thường của người tù
Một ngày bình thường của tù nhân ở trại giam thì diễn ra như sau.
Tôi thường gọi là “người tù”, ít khi dùng chữ “phạm nhân”.
Buổi sáng dậy lúc mấy giờ thì lâu quá tôi không nhớ chính xác, có thể là năm giờ, năm rưỡi hoặc sáu giờ.
Thời gian đầu ở Thanh Hóa, tôi cũng được xếp vào một đội lao động cấp trại. Nhưng sau đó, kể từ năm cuối cùng, sau khi ông Cao N.O. — người đứng đầu Tổng cục trại giam khi đó — có tác động gì đó, thì cai tù sợ quá, không cho tôi ra ngoài khu lao động nữa mà cho tôi ở trong buồng. Thời gian đó tôi chủ yếu ở trong nhà, đọc sách, sinh hoạt trong buồng.
Còn về nếp sống chung thì buổi sáng có kẻng báo thức, cán bộ đi qua điểm buồng. Mọi người phải dậy. Điểm buồng tức là cán bộ đứng bên ngoài, còn một người tù “cờ đỏ” hay kiểu tù được chọn để giúp việc cho cai tù sẽ đi từng người, từng hàng, kiểm tra xem có đủ số người không.
Sau đó mọi người đánh răng, rửa mặt, lấy cơm sáng. Ai ăn thì ăn, không ăn thì thôi. Rồi xếp hàng đi ra ngoài vườn lao động.
Làm việc đến trưa thì về, ăn cơm trong đội, nghỉ một chút rồi lại đi làm tiếp. Đến chiều lại về, rồi tất bật tranh thủ tắm giặt, ăn uống. Có nhiều người không đủ thời gian làm vệ sinh cá nhân cho xong thì đã bị lùa vào buồng rồi.
Buổi tối bị nhốt trong buồng, xem tivi hoặc tranh thủ làm việc gì đó. Có người làm vàng mã, có người thêu thùa, thì họ phải giấu, tranh thủ mang việc vào trong buồng để làm. Vì ở ngoài khu lao động thì không có thời gian, không đủ sức, cũng không đủ điều kiện để làm thêm gì cả.
Nhưng mang đồ vào trong buồng là bị cấm. Bị cấm thì người ta phải giấu, hoặc phải đút lót. Chuyện tù nó nhiều thứ lắt léo lắm.
Nói chung là một ngày cứ như vậy: sáng dậy, đi làm; trưa về, ăn vội; chiều lại đi làm; tối về nhập buồng. Thời gian từ lúc đi làm về cho đến lúc bị khóa cửa buồng rất ngắn. Nhiều người còn không kịp tắm gội. Có người đang tắm dở mà bị gõ kẻng một cái là phải vội vã xối nước lên người, mặc đại bộ quần áo ướt rồi chạy vào buồng. Cuộc sống của người tù là như vậy.
Hạn chế quyền con người và quyền thông tin
Về mặt luật pháp, khi tòa tuyên án thì người tù không phải bị mất hết quyền công dân, mà chỉ bị tạm thời tước bỏ một số quyền nhất định. Ví dụ trong thời gian thi hành án thì không được ứng cử, không được bầu cử. Nhưng các quyền khác như quyền khiếu nại, khiếu tố, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được bảo vệ nhân phẩm, sức khỏe, quyền được khám chữa bệnh, quyền được thư tín, quyền được thăm gặp — tất cả những quyền đó vẫn còn, chỉ là bị hạn chế thôi.
Điều này cần phải nói cho rõ.
Còn về thực tế thì những quyền đó có được tôn trọng không? Theo tôi là không đầy đủ.
Ví dụ quyền thư tín. Tôi vẫn có quyền gửi thư cho gia đình. Nội dung thư sẽ bị trại giam kiểm duyệt, điều đó thì tôi hiểu. Nhưng nếu nội dung không cổ súy bạo lực, không vi phạm gì, thì theo lẽ thường nó phải được gửi đi chứ.
Trong suốt ít nhất hai năm rưỡi ở trại Thanh Hóa, tôi đều đặn gửi thư về cho gia đình. Mỗi lần gửi, cán bộ đều xét duyệt và thông báo với tôi là đã gửi rồi. Nhưng sau này, lần nào gia đình lên thăm tôi hỏi có nhận được thư không, họ cũng nói là chưa. Suốt thời gian đó, gia đình tôi chưa bao giờ nhận được một lá thư nào từ tôi.
Ngược lại, tôi cũng chỉ nhận được duy nhất một lá thư từ cháu gái gửi vào. Ngoài ra không nhận được gì nữa, mặc dù về sau tôi biết có rất nhiều người gửi thư cho tôi.
Tôi cũng không được gọi điện thoại. Trong khi theo quy định, mỗi tháng tù nhân được gọi điện một lần, không quá mười phút. Nhưng tôi chưa bao giờ được gọi điện về nhà. Khi hỏi ra thì họ nói tôi phải nhận tội, phải thành khẩn nhận tội thì mới được gọi. Tôi hỏi luật nào quy định như vậy thì họ nói đây là căn cứ đánh giá cải tạo tốt, ai không nhận tội thì không được gọi.
Tôi không nhận tội gì cả. Cho nên tôi chưa bao giờ được gọi điện về nhà.
Đó mới chỉ là một ví dụ về quyền liên lạc thông tin thôi.
Còn quyền đọc sách, tôi cũng phải tuyệt thực thì mới được nhận sách đọc. Báo chí thì họ cũng không cấp. Ngay cả báo Nhân Dân mà tôi muốn đọc cũng bị hạn chế. Tôi cũng phải đấu tranh thì mới được nhận.
Ngay cả chuyện băng vệ sinh, tôi cũng phải nói chuyện, phải yêu cầu, phải đấu tranh thì họ mới phát. Những người có gia đình, có tiền gửi vào thì còn tự mua được, chứ người không có gia đình thì lấy đâu ra. Cuối cùng họ phải phát băng vệ sinh cho phụ nữ. Nhưng khi phát băng vệ sinh thì lại cắt mất phần giấy vệ sinh tương ứng. Tức là mọi chuyện rất kỳ cục, kể ra thì rất nhiều.
Giải pháp và vấn đề thể chế
Nếu hỏi giải pháp để cải thiện điều kiện giam giữ ở Việt Nam là gì, thì theo tôi, ít nhất mỗi người tù phải biết quyền của mình để còn biết nói chuyện, biết đàm phán với cai quản.
Đó là nói về mặt chủ quan.
Còn về mặt khách quan, tôi nghĩ là không có biện pháp nào thực sự hiệu quả nếu cả hệ thống nhà tù vẫn vận hành dưới cùng một cơ chế như vậy. Họ dùng nhà tù để trừng trị con người, chứ không phải để cải tạo hay giáo dục đúng nghĩa.
Tôi chưa cần bàn đến việc người đó có thực sự vi phạm pháp luật hay không, nhưng bản chất họ coi nhà tù là nơi trừng trị. Bộ luật đã rất khắc nghiệt rồi, mà cách thực thi còn khắc nghiệt hơn nữa. Điều đó cho thấy bản thân họ không có thiện chí, không coi trọng việc tôn trọng nhân phẩm, thậm chí là mạng sống của người tù.
Họ không coi người tù là con người đúng nghĩa. Có những người từng nói thẳng rằng tù thì không phải là người nữa. Chỉ riêng câu nói đó thôi, theo tôi, đã đại diện cho bộ mặt của chế độ nhà tù.
Vì vậy, tôi nghĩ không có giải pháp nào ngoài giải pháp thay đổi từ gốc rễ. Còn mọi giải pháp kiểu A, B, C, lộ trình này, kế hoạch kia, theo tôi đều chỉ mang tính hình thức, trên giấy tờ, và không khả thi.
Vấn đề nằm ở thể chế chính trị. Khi nào con người được tôn trọng thật sự, khi nào có một thể chế hợp lòng dân, thì khi đó hệ thống nhà tù mới thay đổi. Còn bây giờ, nói gì cũng dễ thành hình thức.
Vấn đề giám sát độc lập
Nếu đặt ra giả thiết rằng có một tổ chức hay một cơ quan độc lập nào đó được quyền giám sát hệ thống trại giam ở Việt Nam, thì trước hết phải hỏi là Việt Nam có cho phép điều đó hay không.
Mà giả sử có cho phép, thì câu hỏi tiếp theo là: tổ chức đó có được quyền giám sát lâu dài không? Họ có đủ phương tiện để giám sát thật sự không? Việc giám sát đó có thực chất không? Và nó được duy trì trong bao lâu?
Nếu mà ví dụ trong năm năm, mười tháng, một tháng, một năm hay hai năm, giả sử Việt Nam cho phép có một cơ chế giám sát nào đó, thì sau thời gian giám sát ấy, chuyện gì sẽ xảy ra?
Và chưa chắc họ đã cho giám sát toàn bộ hệ thống nhà tù. Có khi họ chỉ chọn một nơi thí điểm. Mà nếu như vậy thì họ hoàn toàn có thể nhét hết những “con ông cháu cha”, những người có tiền vào đó, rồi cho đoàn xuống giám sát. Khi ấy, kết quả giám sát cũng bằng không. Thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa, bởi vì những nhà tù khác vẫn cứ đàn áp con người như cũ.
Tôi nghĩ tốt hơn hết là cứ để mọi thứ hiện ra đúng như bản chất của nó, như nó đang diễn ra trong hệ thống đó. Bởi vì nhiều khi bất cứ giải pháp nào cũng chỉ làm tăng khả năng điều khiển theo mong muốn của nhà cầm quyền mà thôi.
Cuộc sống sau khi mãn hạn tù và sự quản chế
Sau khi mãn hạn tù về, tôi chưa cần nói đến chuyện “hòa nhập xã hội” theo nghĩa lý thuyết hay theo giọng tuyên truyền của nhà nước, rằng người ra tù cần được giúp đỡ để làm quen lại với cuộc sống bên ngoài. Tôi chưa cần nói đến những điều đó.
Vấn đề ở đây là khi tôi về, tôi vẫn còn ba năm quản chế. Và ba năm quản chế đó là một dạng khác của sự giam hãm.
Tất nhiên, so với trong tù thì tôi được gặp gia đình, được ăn những gì mình muốn nếu gia đình mang cho hoặc mua cho, được xem tivi, được tự do đọc sách trong nhà. Nhưng sự khủng bố lại biến thể sang một dạng khác, và cái khó khăn đó không khác gì thời gian ở tù.
Ví dụ, khi còn ở trong tù, nếu có chuyện gì xảy ra với tôi thì tôi còn có thể quy trách nhiệm cho một cai tù A hay B. Nhưng khi tôi về rồi, nếu tôi có nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh, thì họ nói rằng tôi đang bị quản chế, đi đâu cũng phải xin phép.
