Án quản chế: Hình thức giam hãm tiếp nối

Theo quy định, muốn ra khỏi phường thì phải xin phường. Muốn ra khỏi quận thì phải làm đơn và có sự đồng ý của quận. Muốn ra khỏi thành phố thì phải làm đơn và phải có sự đồng ý trực tiếp của chủ tịch hoặc phó chủ tịch thành phố.

Nghĩa là rất nhiều cơ quan cùng quản lý mình.

Nhưng vì tôi không chấp hành án quản chế theo cách họ muốn, nên trong ba năm đó tôi bị triệu tập trên dưới ba mươi lần, bị áp tải ba lần và bị phạt hai lần vì đi quá phạm vi mà phường cho phép. Những giấy tờ ấy tôi vẫn còn giữ.

Chỉ riêng những điều đó thôi cũng đủ cho thấy rằng đối với một người ra tù, cái án quản chế thực chất là một hình thức giam hãm tiếp nối. Thậm chí, về sau khi hết cả án quản chế rồi, thì về mặt lý thuyết và pháp luật là tôi đã xong. Nhưng về mặt thực tế, tôi vẫn bị canh giữ, vẫn bị ngăn cản quyền tự do đi lại, vẫn bị công an, an ninh, mật vụ đến nhà bất cứ lúc nào để kiểm tra hộ khẩu, không cho bạn bè đến thăm.

Rất nhiều bạn của tôi đã bị đánh chỉ vì đến thăm tôi. Tôi cũng không được đi ra khỏi nhà, vì các thành viên trong gia đình tôi cũng bị đánh.

Hệ lụy đối với gia đình và người thân

Khi tôi ở trong tù thì một mình tôi chịu thôi. Nhưng khi ra tù và trong ba năm quản chế ấy, gia đình tôi cũng phải đối mặt với rất nhiều hậu quả từ việc tôi bị quản chế. Thậm chí cháu tôi hay họ hàng ruột thịt ở chung với tôi, đi làm về, mà công an còn hỏi “đây là ai?”, bắt đưa giấy tờ ra kiểm tra, trong khi họ biết thừa.

Cho nên trong ba năm quản chế, tôi phải nói là có những khó khăn không khác gì thời gian ở trong tù.

Nhiều người vẫn hay đùa với những người mãn hạn tù rằng: “Chúc mừng anh chị thoát khỏi nhà tù nhỏ để trở về với nhà tù lớn.” Trong trường hợp của tôi, câu nói đó rất chính xác.

Thậm chí nhiều lúc tôi còn nói rằng trước kia tôi ở trong nhà tù, còn về sau thì họ biến chính căn nhà của tôi thành nhà tù. Ngày trước, tôi gọi nơi mình bị nhốt là nhà tù. Sau này, tôi cảm giác như họ biến chính căn nhà mình đang sống thành lao thất. Họ đứng ngoài canh, không cho tôi ra ngoài, không cho ai vào thăm. Tôi từng nói vui mà thật rằng: “Tư gia biến thành lao thất”, là như vậy.

Di chứng tù đày và sức khỏe giảm sút

Nếu hỏi việc ở tù đã ảnh hưởng thế nào đến tâm lý và sức khỏe của tôi, thì đây là một câu hỏi rất lớn. Tôi nghĩ mình cần rất nhiều thời gian mới có thể nói hết.

Dù đã qua rất nhiều năm rồi, nhưng quả thật di chứng tù đày đối với tôi là rất kinh khủng.

Tôi bị tù, rồi sau này lại lấy chồng cũng từng đi tù. Tôi bốn năm, anh ấy mười bốn năm. Cho nên hơn ai hết, chúng tôi hiểu rất rõ hậu quả của tù đày ghê gớm như thế nào, cả về thể xác lẫn tinh thần.

Về tinh thần thì không thể đong đếm được. Những điều đó chỉ những người thực sự sống gần mình, ở cạnh mình lâu năm, như mẹ tôi ngày trước, hay sau này là chồng tôi, mới thấy được.

Còn về sức khỏe, về thể chất, thì rõ ràng là tôi mất đi rất nhiều.

Cuộc đấu tranh trong trại giam Thanh Hóa

Ví dụ, trong thời gian tôi ở Thanh Hóa, họ bắt đóng dấu chữ “phạm nhân” lên quần áo. Nhưng tôi không cho. Tôi nói một là đóng dấu “tù nhân”, còn hai là nếu đóng dấu chữ “phạm nhân” thì tôi không chấp nhận. Tôi không phải là người phạm tội, nên tôi không cho phép họ đóng dấu như vậy.

Vì thế, tôi không được nhận quần áo từ gia đình. Công an cũng không phát thêm quần áo cho tôi, vì nếu phát thì phải đóng dấu. Tôi không chịu, nên suốt hai ba mùa đông ở Thanh Hóa, tôi chỉ mặc những bộ quần áo cũ mình đã có từ trước.

Mà anh biết rồi, Thanh Hóa khắc nghiệt như thế nào. Mùa đông rất lạnh. Tắm thì tắm ngoài trời, không có mái che, không có gì chắn gió cả.

Sức khỏe của tôi vì thế rất tệ. Đến tận bây giờ vẫn còn ảnh hưởng. Kể cả khi sống ngoài này, mùa hè ở Sài Gòn nóng như vậy, mà hôm nào trời mưa là tôi phải đi hai ba đôi tất, không có một đôi giày nào mà chân vẫn không lạnh.

Suốt ba năm bị quản chế ở Hải Phòng, tôi liên tục phải đi bệnh viện vì sức khỏe xuống dốc do những năm tháng nằm trên nền xi măng, bệ xi măng. Họ chỉ rải một cái chiếu rất nhỏ, mỏng, vậy thôi.

Sau khi chuyển sang trại 5 Thanh Hóa, họ lại không cho tôi tự làm những cái nệm bằng chăn để lót phía dưới nằm, mà bắt nằm trực tiếp trên chiếu. Tôi đã phải tuyệt thực để đấu tranh chuyện đó.

Tôi không được nhận quần áo, nên về sau có một người tù, mọi người gọi là một bà “bị thần kinh”, đã giúp tôi. Bình thường thì tôi vẫn nhớ tên bà, nhưng giờ tự nhiên lại quên mất họ. Bà ấy là phụ nữ, có mấy người con trai ở ngoài. Mọi người nói bà bị thần kinh, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ bà rất tỉnh táo. Có thể bà dựa vào cái tiếng “bị thần kinh” của mình để có thể giúp đỡ người khác.

Bà ấy cho tôi quần áo. Nhưng thật ra đó không hẳn là quần áo đúng nghĩa, mà chỉ là những mảnh vải, những thứ khoác tạm lên người. Tôi khoác như vậy để qua mùa đông.

Đó là những chuyện ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của tôi. Nóng thì còn có thể chịu được, nhưng lạnh thì gần như tôi không chịu nổi.

Ý chí và tri thức trong chốn lao tù

Về những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong thời gian bị giam giữ, thì câu chuyện đó là một trong những kỷ niệm rất cảm động. Trong cuốn sách của tôi, tôi chưa có dịp kể lại, nhưng các câu hỏi làm tôi nhớ ra.

Ngoài ra còn có một câu chuyện khác nữa.

Tôi vẫn nghĩ rằng nhà tù có thể lấy đi thời gian của mình, lấy đi sức khỏe của mình, thậm chí làm mai một đầu óc, mai một kiến thức của mình. Nhưng có một thứ nó không thể lấy được, nếu mình không để mất, đó là ý chí.

Thời gian thì mình không quyết định được. Nhưng ý chí thì mình quyết định được.

Và còn một thứ nữa: nếu mình không chiến đấu thì nó sẽ lấy mất luôn cả tri thức của mình. Trong tù họ không cho đọc sách, đọc báo. Cho nên tôi cứ dặn gia đình phải gửi sách, gửi báo vào. Nhưng gia đình tôi cũng hay quên. Mấy bà chị thì cứ nghĩ lo tiếp tế đồ ăn là đủ. Tôi phải nói mãi rằng phải gửi sách vào, nếu không thì ở trong đó đầu óc mình sẽ hỏng mất.

Cuối cùng, có khi gia đình gửi rồi mà cai tù cũng không đưa. Họ cứ nói là “làm việc sau”, “để sau”, nên tôi cũng phải tuyệt thực để đòi.

Tình người giữa những người tù

Trong thời gian ở tù, tôi quen một chị tên là chị Hương, tôi vẫn gọi là chị Hương Môn. Chồng chị ấy là một đại tử tù, là người dính một vụ án rất khủng khiếp, thuộc giới giang hồ. Nhưng riêng chị Hương lại là người rất thích đọc sách, lại có điều kiện kinh tế.

Khi chị được chuyển vào trại 5 Thanh Hóa, có thể nói chị là một người rất “có tiếng” trong tù vì có tiền. Ngoài xã hội thì có tiền, vào tù người ta cũng biết.

Về sau chị kể với tôi rằng ngay từ lúc mới vào, cán bộ đã nhắc chị là không được chơi với tôi. Chị ấy đâu biết tôi là ai, nên khi nghe họ nói “không được chơi với Phạm T.N.” thì chị còn ngạc nhiên, cứ hỏi “N là ai?”.

Sau đó chị làm quen với tôi. Vì chị rất mê đọc sách, lại có rất nhiều sách, nên trong lúc gia đình tôi gửi sách vào khó khăn, thì chị cho tôi mượn sách. Chị là người rất yêu sách, chỉ cần nghe nói đọc là chị cho mượn, không sợ gì cả, mặc dù biết là có thể bị cấm đoán.

Chị sống rất khỏe trong tù, một phần cũng vì cái tính ngang tàng của chị. Chị cho tôi mượn rất nhiều sách. Có lần chị còn nói, đại ý là càng bị cấm đoán thì chị càng không thích, càng muốn làm.

Tôi thì thường cố gắng chủ động tránh cho người khác khỏi bị liên lụy. Nhưng chị thì lại nhờ người khác chuyển giúp.

Tôi nhớ người hay liên lạc giữa tôi và chị Hương là một bé tên Hà. Sau này tôi biết là Hà cũng bị đòn vì chuyện đó.

Có lần chị Hương lại cho tôi mượn sách, giúp đỡ tôi rất nhiều. Mấy hôm sau tôi không thấy chị đâu. Bé Hà mới nói là chị Hương bị ghi kỷ luật rồi.

Thông thường những vụ kỷ luật như vậy, cai tù sẽ đọc trên loa hoặc thông báo công khai. Nhưng trường hợp của chị Hương thì họ không đọc. Có lẽ họ không muốn lộ ra.

Sau đó chị gầy đi trông thấy. Trong tù có rất nhiều hình thức hành hạ ghê gớm như vậy.

Tôi luôn cảm thấy đó là một trong những câu chuyện khiến tôi ân hận nhất. Vì người ta tốt với mình, tin mình, mà lại bị liên lụy vì mình.

Sau này, khi ra tù rồi, tôi vẫn còn nghĩ đến chuyện đó nhiều lần.

Bé Hà thì vẫn còn liên lạc kiểu rất đặc biệt. Trong tù, họ có ngôn ngữ riêng của họ. Họ trèo lên cửa phòng giam để giao tiếp với nhau bằng cách vẫy tay, vẽ chữ bằng ngón tay trong không khí. Tôi không làm những chuyện ấy, nhưng họ thì có. Và Hà có nhắn với tôi rằng: “N đừng buồn, cái này không phải lỗi của N”.

Nhắc lại bây giờ tôi mới nhớ ra rằng những chuyện này tôi chưa viết.

Sức mạnh của Lý tưởng và Đức tin

Nếu hỏi trong suốt quãng thời gian bị giam giữ, tôi nhớ ai nhất ở ngoài xã hội, thì đương nhiên là mẹ tôi.

Tôi nhớ nhiều người, nhưng người làm cho mình nhớ nhiều nhất vẫn là mẹ. Tôi không sợ công an, không sợ tù tội bằng nỗi sợ cho mẹ mình. Khi tôi bị bắt đi tù thì lúc đó mẹ tôi rất bệnh.

Điều giúp tôi vượt qua quãng thời gian giam giữ ấy, trước hết là tôi luôn khẳng định với chính mình rằng những việc tôi làm là đúng, là chính nghĩa và cần thiết.

Chính sức mạnh tinh thần đó, sức mạnh nội tâm đó, đã giúp tôi chiến thắng.

Bởi vì khi một người làm việc gì mà không chắc mình đúng, vẫn còn nghi ngờ bản thân, còn hoài nghi về lựa chọn của mình, thì khi rơi vào vòng lao lý, đối diện với những người của nhà nước — công an, điều tra viên, tòa án — là những người được đào tạo rất bài bản trong việc đánh gục ý chí người khác, thì rất dễ sụp đổ.

Nếu mình không có sức mạnh nội tâm, không có sức mạnh tinh thần, không có lý tưởng, thì sẽ không thể vượt qua được.

Tôi phải khẳng định là lý tưởng rất quan trọng. Nếu mình không chắc đây là con đường đúng, không chắc việc mình làm là đúng, là cần thiết, là phải làm, thì rất dễ nảy sinh cái tâm lý của một người phạm tội. Mà nếu đã thấy mình như một kẻ có tội, thì chỉ cần một chút áp lực nữa thôi là mình thua.

Cho nên trong suốt thời gian đó, tôi luôn luôn tâm niệm rằng việc mình làm là đúng.

Mặc dù lúc ấy tôi chưa biết đến Chúa Giêsu, chưa biết đến Công giáo, nhưng khi bắt đầu dấn thân vào công việc này, đặc biệt là khi bước chân vào tù, tự nhiên tôi lại nghĩ rằng đây là điều mà ơn trên chọn cho mình.

Có thể điều này nghe có màu sắc tôn giáo, nhưng anh hỏi thì tôi phải nói thật. Đó là sự thật.

Kể cả sau này, khi mọi người hỏi tại sao một người như tôi — khi đi tù chỉ khoảng ba mươi sáu ký, sức khỏe rất yếu — mà vẫn có thể vượt qua được, thì tôi nghĩ là một phần đến từ sức mạnh nội tâm của mình. Chỉ một phần thôi. Còn một phần nữa, theo niềm tin của tôi, là đến từ Thiên Chúa.

Tôi nghĩ rằng mình làm những việc chính nghĩa này là có ơn trên nâng đỡ. Khi mình tin đây là việc tốt đẹp, mình làm vì cộng đồng, vì dân tộc, vì tiền nhân và vì hậu thế, thì tự nhiên mình có sức mạnh tinh thần để vượt qua tất cả.

Còn nếu mình không tin mình đúng, vẫn còn hoài nghi, vẫn còn quá nhiều vướng bận và sợ mất, thì sẽ không làm được.

Khi bước chân vào tù, tôi thậm chí xác định là có thể chết. Mà khi một người đã xác định đến mức đó, thì rất khó để họ bị bẻ gãy ý chí.

Tất nhiên, cũng phải nói thật là án tù của tôi có thể chưa khắc nghiệt bằng nhiều anh em khác. Tôi không bị đánh đập, không bị tra tấn thể xác. Nếu tôi bị tra tấn, bị đánh đập dã man thì tôi cũng không dám nói trước là mình có vượt qua nổi không. Nhưng ít nhất, thứ nhất là tôi có sức mạnh tinh thần, có nội tâm đủ vững để tin rằng việc mình làm là đúng. Thứ hai là án tù của tôi, dù nặng, nhưng có lẽ vẫn chưa đến mức tận cùng nhất.

Lựa chọn giữa Thiện và Ác

Nếu bây giờ được nói lại điều gì đó với quản giáo hay giám thị trại giam, thì tôi không nói thay người khác, tôi chỉ nói cho riêng tôi thôi.

Tôi không hề căm thù họ.

Tôi không căm ghét họ. Nhưng con người có những lúc không được lựa chọn, và có những lúc được lựa chọn. Đặc biệt, có một điều luôn luôn nằm trong lựa chọn của mỗi người, đó là lựa chọn giữa thiện và ác.

Người ta có thể chọn cái ác, và người ta cũng có thể chọn cái thiện. Điều đó hoàn toàn nằm trong quyết định của mỗi con người.

Tôi nhắc lại: tôi không căm thù họ. Tôi làm những việc này từ trước, cả khi đi tù, và ngay cả khi họ bỏ tù tôi, giam cầm tôi, ngược đãi tôi, thậm chí nếu họ có đánh đập tôi nữa, thì tôi cũng không căm thù họ.

Nhưng tôi chỉ muốn nói với họ rằng tôi tiếc cho họ — tiếc vì sao họ đã không lựa chọn điều thiện mà lại lựa chọn điều ác.