Trong bản án đầu tiên, tôi bị hai lần như vậy. Mỗi lần là bị cùm mười ngày rồi biệt giam thêm hai mươi ngày. Nghĩa là mỗi lần tổng cộng ba mươi ngày. Hai lần như vậy.

Sau những lần bị cùm và biệt giam như thế, sức khỏe của tôi bị ảnh hưởng rất nhiều. Khi bị cùm, chân không cử động được. Đến khi họ tháo cùm ra thì tôi không đi nổi, chân bị tê liệt. Những hậu quả đó kéo dài đến tận bây giờ, ảnh hưởng đến teo cơ và thần kinh tọa.

Sự tự do giả tạo và sự quản chế ngầm

Khi hết án lần thứ nhất, tôi ra tù vào ngày 13 tháng 5 năm 2008. Bản án thứ nhất không có ghi quản chế. Nói chung cả hai bản án của tôi đều không ghi quản chế, nhưng trên thực tế họ vẫn quản chế ngầm.

Khi mãn hạn án lần thứ nhất, họ không đưa tôi về địa phương. Họ chỉ ký một lệnh xác nhận là tôi đã chấp hành xong án. Những giấy tờ liên quan đến bản án đó, đến giờ tôi vẫn còn giữ.

Khi đã chấp hành xong bản án đó thì họ thả tôi ra. Tôi tự đi ra ngoài, và người nhà đón tôi ở ngoài cổng trại. Lần đầu tiên họ không đưa tôi về địa phương.

Sau khi ra tù từ bản án thứ nhất, thái độ của địa phương nơi tôi tạm trú đối với tôi rất rõ ràng: họ xem mình như một kẻ thù. Họ bắt tôi viết tường trình, bắt tôi cam kết là sẽ không tiếp tục lên tiếng nữa.

Tôi còn nhớ, khi tôi quay về địa phương để làm lại giấy tờ và nhập lại hộ khẩu, họ bắt tôi viết một bản tường trình. Trong đó tôi viết rằng tôi đã lên tiếng về quyền lao động của tôi cũng như của anh chị em công nhân, và tôi xin hứa rằng nếu tiếp tục lên tiếng nữa thì tôi sẽ lại bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt giữ.

Và thực sự thì đúng như vậy. Tôi về chưa bao lâu thì lại tiếp tục bị bắt trong bản án thứ hai.

Nỗ lực mưu sinh và sự triệt đường sống

Sau khi ra tù lần thứ nhất, tôi luôn bị theo dõi và bị quản lý theo một cách rất đặc biệt. Hầu như tôi không thể đi làm bình thường được. Tôi vốn là thợ máy, trước đây chuyên nhận bảo trì cho các công ty ở Sài Gòn. Nhưng tôi đi đến đâu, làm được vài hôm thì chủ cũng tìm cách cho tôi nghỉ. Tôi hiểu chứ, tôi biết vì sao. Trong ngành bao bì nhựa PP ở Sài Gòn lúc đó, tôi thuộc nhóm khoảng mười người thợ giỏi nhất. Cho nên tôi biết họ muốn triệt đường sống của mình.

Về sau, tôi quay trở lại với hoạt động công đoàn. Thời đó chưa có xe công nghệ, nên tôi dùng xe Honda chạy xe ôm để đi tiếp cận công nhân, phổ biến cho họ các quy định của luật lao động. Đó là công việc tôi tiếp tục làm sau khi ra tù lần thứ nhất.

Thật ra, khi tôi tiếp tục làm những việc đó, gia đình tôi không hẳn biết hết. Bên nội thì ba tôi cũng cùng bản án với tôi, nên lúc tôi ra tù thì ông vẫn còn ở trong tù. Anh tôi thì từng bị giam sáu tháng vì bị quy là giúp sức cho tôi. Cho nên phía gia đình bên nội thì không ngại. Còn bên phía bên ngoại, ví dụ như gia đình vợ tôi, thì họ không biết rõ tôi đi làm gì, nên cũng không có ý kiến gì.

Bản án thứ hai và Phong trào Lao động Việt

Tôi bị bắt lần thứ hai vào ngày 13 tháng 2 năm 2010.

Muốn nói về bản án thứ hai thì cũng phải nhắc lại nguồn gốc từ bản án thứ nhất. Ở vụ án đầu tiên, tôi cùng ba tôi, ông Phùng Quang Quyền và cô Trần Thị Lệ Hồng thành lập Hiệp hội Đoàn kết Công Nông. Trong đó ba tôi là cố vấn, cô Hồng là thư ký, tôi là chủ tịch, còn ông Phùng Quang Quyền là cộng sự. Vì tổ chức đó mà chúng tôi bị bắt. Ông Phùng Quang Quyền cũng bị tuyên một năm sáu tháng như tôi.

Sau khi mãn án lần thứ nhất, tôi quay về rồi tiếp tục con đường lên tiếng cho người lao động. Tôi lại đi gặp gỡ công nhân, tìm hiểu xem đời sống của họ có thay đổi gì không, và tôi thấy gần như không có gì thay đổi cả.

Lúc đó tôi quen Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Anh ấy biết tôi là người đã lên tiếng cho quyền lợi người lao động và là một trong những người đầu tiên thành lập công đoàn độc lập ở Việt Nam, nên anh ấy tìm gặp tôi. Anh em nói chuyện với nhau về đời sống công nhân rồi tiếp tục làm việc cùng nhau.

Thời điểm đó, Đỗ Thị Minh Hạnh là bạn gái của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Ba anh em chúng tôi gặp nhau, rồi cùng nói về những yếu kém của công đoàn nhà nước. Sau đó, qua sự giới thiệu của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, tôi biết ông Trần Ngọc Thành ở Ba Lan. Ngày xưa ông ấy là một cựu đảng viên cấp cao của Đảng Cộng sản, nhưng sau khi thấy chế độ này quá thối nát thì ông đi học ở Ba Lan rồi ở lại luôn, không quay về phục vụ cho Đảng Cộng sản nữa.

Chúng tôi thấy người lao động vẫn bị áp bức, nên tiếp tục thành lập một tổ chức công đoàn độc lập thứ hai, đó là Phong trào Lao động Việt.

Cuộc đình công tại công ty Mỹ Phong

Lần thứ hai tôi bị bắt là khi đang hướng dẫn cho khoảng mười bốn ngàn công nhân ở công ty giày da Mỹ Phong, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm đó công ty không trả thưởng Tết cho công nhân, không trả lương tháng thứ mười ba, và còn đòi cắt giảm nhiều quyền lợi của người lao động.

Công nhân cho chúng tôi biết rằng công ty này đang xây thêm mười phân xưởng, đang tuyển thêm mười ngàn công nhân, nhưng lại nói là không có tiền để trả lương và thưởng. Khi tìm hiểu thì chúng tôi biết công ty đó mang danh nghĩa Đài Loan nhưng thực chất là của Trung Quốc. Vì vậy chúng tôi xuống đó để hướng dẫn người lao động về quyền lợi của họ và tổ chức cho họ đình công.

Cuộc đình công kéo dài bảy ngày. Cuối cùng phía công ty chấp nhận đáp ứng bảy điểm yêu cầu mà chúng tôi đưa ra: người mang thai được hưởng chế độ thai sản, bữa ăn được cải thiện, tiền lương được cải thiện, chỗ ở được công ty trợ cấp, tiền xăng đi lại được hỗ trợ, nguồn nước uống phải bảo đảm vệ sinh, và các quyền lợi cơ bản khác của người lao động phải được điều chỉnh hợp lý.

Điều quan trọng nhất là chúng tôi buộc họ tăng lương. Năm 2010, trước đó công ty chỉ trả có 854.000 đồng một tháng. Sau cuộc đình công, chúng tôi buộc họ phải tăng lên 1.554.000 đồng một tháng cho người lao động.

Tức là việc chúng tôi làm là giành được quyền lợi cụ thể cho công nhân. Chúng tôi là những người thắng trong vụ đó, vì công ty đã chấp nhận các yêu sách. Nhưng ngược lại, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cho rằng chúng tôi đã kích động đông người biểu tình để nhằm lật đổ chế độ.

Bị bắt và tra tấn tinh thần tại B34

Lần thứ hai, tôi bị bắt giữa lúc đang tham gia hướng dẫn công nhân đình công hợp pháp để đòi quyền lợi chính đáng cho mình.

Lực lượng bắt tôi là người của Bộ Công an. Khi họ phát hiện những tờ rơi của chúng tôi có nội dung yêu sách quyền lợi cho công nhân, thì người đầu tiên họ nhắm đến là tôi, vì tôi đã từng bị bắt trước đó liên quan đến hoạt động công đoàn độc lập.

Một lý do nữa là vợ tôi quê ở Trà Vinh, huyện Cầu Kè, mà huyện Tiểu Cần nơi xảy ra đình công lại ở sát đó, nên họ biết rất rõ tôi đang hoạt động ở khu vực này. Họ bủa vây, chặn tôi ngoài đường rồi bắt luôn.

Họ bắt tôi ngoài đường, rồi lập tức đưa về B34. Tôi biết những người bắt tôi hôm đó là thuộc Bộ Công an.

Lần bắt thứ hai, họ cũng khám xét chỗ ở của tôi. Họ khám phòng trọ, thu giữ xe Honda, máy laptop, điện thoại di động, và tất cả những tài sản nào có liên quan đến tôi thì họ đều tịch thu hết.

Ở bản án thứ hai này, tôi bị giam ở B34 hơn một năm.

Trong quá trình tạm giam để điều tra, tôi tiếp tục bị ép cung và bị tra tấn. Nhưng lần thứ hai còn khủng hoảng hơn lần đầu. Họ dùng một cách tra tấn rất rõ ràng: không cho tôi ngủ.

Họ làm việc với tôi cả ngày. Khoảng năm giờ chiều họ mới đưa tôi vào buồng, nhưng đến bảy giờ tối lại lôi ra làm việc tiếp. Làm đến chín giờ đêm thì cho vào. Khoảng mười giờ lại kéo ra. Họ làm việc đến hai giờ sáng, cho vào nghỉ được chừng một tiếng, rồi lại kéo ra tiếp. Họ làm như vậy để khiến tôi kiệt quệ tinh thần rồi khai thác.

Không phải chỉ một điều tra viên, mà có rất nhiều người thay phiên nhau làm việc với tôi. Một mình tôi phải làm việc với cả chục người. Người này xong ca thì sang người khác. Họ có thể nghỉ ngơi, còn tôi thì liên tục bị đưa ra làm việc.

Giai đoạn khủng hoảng nhất đó kéo dài trong chín ngày. Suốt chín ngày đó, cứ vừa được đưa vào buồng, mệt quá nằm xuống chợp mắt được một tiếng là họ lại lôi ra. Họ ép tôi phải khai những người cộng tác với mình, những người công nhân cùng tham gia biểu tình. Nhưng thật ra tôi đâu có gì để khai theo ý họ. Việc gì tôi làm thì tôi nói tôi làm, còn những người kia đâu có biết gì để mà khai. Thế mà họ vẫn ép.

Ngoài việc không cho ngủ, họ còn đánh đập tôi. Họ chia thành hai đội. Một đội thì nói chuyện rất nhỏ nhẹ, xưng anh anh em em, nói về tâm lý, thậm chí còn mang cả Kinh Thánh ra để nói chuyện với tôi. Còn một đội thì giống như quỷ dữ: vừa vào là chửi bới, ép khai, nói rằng cộng sự của tôi đã khai hết rồi, rồi đánh, đấm, đá, tát vào mặt, đánh vào tai.

Họ chủ yếu dùng tay. Có khi họ dùng dép lào, kẹp hai chiếc rồi tát mạnh vào hai bên tai.

Biệt giam và nỗi ám ảnh chùm chìa khóa

Trong thời gian chín ngày đó, họ vẫn bố trí cho tôi ở cùng một người mà tôi biết rõ là ăng-ten của họ. Nhưng lần thứ hai thì tôi đã có kinh nghiệm từ lần đi tù trước rồi, nên tôi biết rất rõ những người như vậy là ai. Tôi yêu cầu họ tách người đó ra vì anh ta làm phiền tôi quá nhiều. Họ không chịu chuyển, nên tôi phải tự tạo cớ: tôi gây sự, đánh lộn với người đó để họ buộc phải chuyển anh ta ra khỏi buồng.

Sau việc đó, họ lấy lý do tôi vi phạm nội quy trại giam rồi đưa tôi xuống biệt giam.

Trong suốt giai đoạn tạm giam để hoàn tất hồ sơ của bản án thứ hai, tôi bị biệt giam một lần. Lần này họ không cùm, nhưng nhốt tôi một mình trong một căn buồng rất tối. Tôi không còn biết thời gian là gì nữa. Đó là khoảng thời gian tôi thấy dài nhất trong đời mình.

Tôi chỉ biết đến lúc họ đưa cơm vào thì ăn. Ăn xong, tôi đặt lại cái bo cơm – tức cái cà mèn nhựa – lên lỗ cửa để họ lấy đi. Còn ngoài ra thì hoàn toàn không biết gì. Buồng biệt giam đó lại khác những buồng khác ở chỗ nó có đến hai ba lớp cửa. Khi ở trong đó, tôi mất hẳn khái niệm về thời gian. Không còn biết đó là ngày hay đêm, ngày mấy, tháng mấy. Chỉ biết là họ đưa cơm vào thì ăn, ăn xong thì lại để ra.

Tôi ước lượng thời gian bị biệt giam lần đó khoảng hơn ba tháng. Lúc ở trong đó thì không thể biết được, nhưng sau này khi họ chuyển tôi về công an tỉnh Trà Vinh để chờ xét xử, có đọc ngày tháng, lúc đó tôi mới tính lại và biết là mình đã bị biệt giam hơn ba tháng.

Điều ám ảnh tôi nhất trong suốt quá trình đó, và cũng là điều ám ảnh nhiều anh em khác, là tiếng chùm chìa khóa của quản giáo.

Chỉ cần nghe tiếng chùm chìa khóa lắc lên là tinh thần tôi căng thẳng ngay, vì đó là dấu hiệu cho biết sắp bị lôi ra làm việc với an ninh, với điều tra. Mà mỗi lần như vậy là một lần khủng hoảng tinh thần. Cho đến tận hôm nay, đã gần mười năm sau khi ra tù, nếu có ai cầm một chùm chìa khóa lớn lắc lên là trong người tôi vẫn còn bị ám ảnh.

Hành trình qua các trại giam

Điều kiện giam giữ ở B34 trong lần thứ hai về cơ bản vẫn như lần đầu, không có gì thay đổi, chỉ khắc nghiệt hơn. Nước thì họ cho còn ít hơn. Còn các chế độ khác vẫn vậy.

Sau thời gian điều tra xong, vì vụ án của tôi liên quan đến cuộc đình công ở công ty Mỹ Phong, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, nên họ chuyển tôi về tỉnh Trà Vinh để xử.

Ở bản án lần thứ hai, tôi bị tuyên bảy năm tù giam.

Trong suốt bảy năm đó, tôi bị chuyển qua rất nhiều nơi. Từ B34 là một. Xuống trại giam tỉnh Trà Vinh là hai. Chuyển lên trại giam Đồng Tháp, tức trại Phước Hòa bây giờ, là ba. Chuyển về K1 Xuân Lộc là bốn. Chuyển vào K4 Xuân Lộc là năm. Rồi chuyển ra K2 Xuân Lộc là sáu.

Tổng cộng ở lần tù thứ hai, tôi đi qua sáu nơi giam giữ.

Thời gian lâu nhất là ở Xuân Lộc, chủ yếu tại K4 và K2. Tổng thời gian ở Xuân Lộc khoảng năm năm rưỡi đến gần sáu năm. Còn ở trại Đồng Tháp thì chưa đầy một tháng thôi.